Chương trình Festival Nghề truyền thống Huế 2015

ngomonhue

Festival Nghề truyền thống Huế lần thứ 6 “Tinh hoa nghề Việt” diễn ra từ ngày 29/4 đến 3/5/2015 với những chương trình đặc sắc, hấp dẫn, sẽ là nơi tụ hội của nhiều nghề và làng nghề nổi tiếng trong cả nước và tỉnh Thừa Thiên-Huế.

poster_festival_nghe_truyen_thong_2015

Chương trình Festival nghề truyền thống Huế 2015 với các hoạt động như sau:

- Chương trình Ca Múa Nhạc đặc biệt khai mạc Festival Nghề truyền thống Huế 2015 với sự tham gia của các nghệ sĩ, diễn viên, người mẫu đến từ TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và Huế được diễn ra 20g00 ngày 28/4 tại sân khấu Bia Quốc Học và sẽ được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV2.

- Không gian tôn vinh Nghệ nhân và các làng nghề được tổ chức tại phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu, Công viên Tứ Tượng và Bảo tàng Văn hóa Huế sẽ khai mạc 8g00 ngày 29/4. Nghệ nhân và các làng nghề được tôn vinh trong không gian trữ tình, thoáng đảng bên bờ sông Hương, với hệ thống nhà rường truyền thống và cảnh sắc đậm đà nét Huế. 200 nghệ nhân sẽ tham gia phần lớn là nghệ nhân bàn tay vàng, nghệ nhân dân gian, nghệ nhân ưu tú đến từ 40 làng nghề và cơ sở làng nghề truyền thống nổi tiếng trong cả nước và tỉnh Thừa Thiên-Huế.

- Trưng bày cổ vật, được khai mạc 17g00 ngày 28/4 tại không gian khu Di sản Huế. Không gian trưng bày, triển lãm các bộ sưu tập cổ vật quý hiếm liên quan đến các nghề thủ công truyền thống thời Nguyễn của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam; các tiển lãm nhiếp ảnh, mỹ thuật, trưng bày tác phẩm tinh xảo và cổ vật đặc biệt khác.

- Trưng bày của thành phố Kioto Nhật Bản, tại Bảo tàng Văn hóa Huế, khai mạc lúc 9g00 ngày 29/4. Tại đây sẽ trưng bày, giới thiệu một số trang phục Kimono truyền thống của người dân Nhật Bản kết hợp với thêu tay truyền thống Huế.

- Trưng bày ảnh nghệ thuật “Nét đẹp văn hóa các nước ASEAN” tại phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu, với sự tham gia của các tác giả có các tác phẩm tiêu biểu đến từ các nước trong khối ASEAN.

- Hội thảo khoa học “Dấu ấn Huế, bản sắc Việt trong sản phẩm thủ công truyền thống” lúc 8g00 ngày 30/4tại Hội trường Trung tâm Hành chính Thành phố Huế. Có hơn 150 tham dự viên, Hội thảo là diễn đàn đối thoại trực tiếp và thẳng thắn giữa các nhà khoa học, nhà quản lý, các doanh nghiệp, các nghệ nhân, làng nghề, các nhà nghiên cứu mỹ thuật, nhà sưu tầm cổ vật và khách du lịch nhằm trao đổi những kinh nghiệm thực tiễn và định hướng phát triển các sản phẩm của các nghề và làng nghề truyền thống trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

- Chương trình biểu diễn trang phục từ sản phẩm Zèng, thổ cẩm, thêu tay với những hiệu ứng bất ngờ với sự có mặt của các Nhà tạo mẫu Minh Hạnh, Lan Hương…(Việt Nam), Patis Tesoro (Philippine), MoHom Loikhamleng (Myanmar), Eric Choong (Malaysia), Milo Emilio Migliavacca (Indonesia) Wisharawish Akarasantisook (Thailand) sẽ được diễn ra 19g45 ngày 29/4 tại sân khấu Bia Quốc Học.

- Chương trình Liên hoan “Bài ca về nguồn” chào mừng 40 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc do Nhà Thiếu nhi Huế và Phòng Giáo dục Đào tạo thành phố Huế thực hiện lúc 19g30 ngày 30/4.

- Chương trình Liên hoan nhạc Rock với sự tham gia các ban nhạc Rock của Việt Nam và khu vực miền Trung do Thành Đoàn Huế tổ chức vào lúc 19g30 ngày 1/5.

- Không gian trưng bày, giới thiệu sản phẩm đúc đồng Huế, khai mạc 8g00 ngày 28/4 tại khu trưng bày, giới thiệu làng nghề Đúc Đồng phường Phường Đúc.

- Chương trình bế mạc “Lễ rước tôn vinh nghề” và lễ tế tổ bách nghệ diễn ra trên đường Lê Lợi từ 18g00 đến 20g30 ngày 2/5.

- Ngoài ra, có nhiều chương trình nghệ thuật và văn hóa cộng đồng: Hòa nhạc từ 17g00 đến 18g30 các ngày 29/4 đến 2/5 tại đường Công viên 3-2; Diều nghệ thuật “Những cánh bay Việt Nam” từ 13g30 đến 17g00 các ngày 28, 29, 30/4 và 1/5 tại công viên Phu Văn Lâu – Thương Bạc; Lễ hội “Sắc màu tuổi thơ” 7g00 các ngày 27, 28 và 29/4 tại Công viên Lý Tự Trọng, Nhà Thiếu nhi Huế; Đua thuyền trên sông Hương từ 7g00 đến 13g00 ngày 2/5 trước trường Hai Bà Trưng; Ẩm thực Huế tại công viên 3-2 từ ngày 28/4 đến 2/5; Liên hoan “Chim chào mào” vào ngày 2/5 tại trường Hai Bà Trưng./.

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)

Du lịch Huế 1 ngày chỉ với 199.000đ

lang-tu-duc.1

Chương trình tour du lịch Huế 1 ngày giá rẻ chỉ với 199.000đ, cam đoan chất lượng, giá rẻ, tổ chức hàng ngày, 1 khách vẫn tổ chức…Đưa quý khách tham quan cố đô Huế, trải nghiệm với các danh lam thắng cảnh ở Huế

TOUR DU LỊCH HUẾ 1 NGÀY | HUẾ CITY TOUR 1 NGÀY | TOUR THUYỀN RỒNG HUẾ | THAM QUAN HUẾ HÀNG NGÀY | TOUR HUẾ TRONG NGÀY

0978e6bdc6.jpeg

Lăng Tự Đức

SÁNG: Xe và HDV đón quý khách tại khách sạn Huế (trung tâm thành phố Huế) từ 07h30 – 08h15

Đưa quý khách tham quan các điểm về phía Tây thành phố Huế như:

1. Lăng Minh Mạng – đây là một trong những lăng được du khách yêu thích nhất khi đến Huế

2. Lăng Khải Định – với kiến trúc được khảm bằng sành sứ, mang phong cách Châu Âu.

lang-khai-dinh

Lăng Khải Định

 

3. Làng võ triều Nguyễn – Võ Kinh Vạn An: nơi còn lưu giữ lại những bài võ được thi thố trong các kỳ thi tuyển Võ quan – cấm vệ quân cho kinh thành Huế

4. Làng Hương – Làng Nón: đây là làng nghề truyền thống của Huế, còn lưu giữ truyền thống của Huế

5. Lăng Tự Đức – có phong cảnh hữu tình, và là một trong những công trình đẹp của quần thể di tích cố đô Huế

tindulichhue.com-vo-kinh-van-an

Võ Kinh Vạn An

 

TRƯA: Xe đưa quý khách về trung tâm thành phố, thưởng thức ẩm thực Huế với Buffet trưa tại nhà hàng Thăng Long City Tour Huế

CHIỀU: Sau khi thưởng thức ẩm thực Huế và nghỉ ngơi, chúng ta bắt đầu di chuyển đến bến Tòa Khâm, bắt đầu du ngoạn thuyền rồng trên sông Hương, tham quan 2 điểm:

1. Nhà vườn An Hiên – Được xem là khu nhà vườn đẹp nhất đến nay ở cố đô Huế.

ChuaThienMu

Chùa Thiên Mụ

 

2. Chùa Thiên Mụ – là ngôi chùa cổ nhất, kiến trúc đồ sộ nhất và cũng là ngôi chùa đẹp nhất của Huế.

Trở về Trung tâm Huế bằng thuyền rồng, đừng quên ghi lại những khoảnh khắc đến trên sông Hương thơ mộng.

Kết thúc tour 16h30 tại bến Tòa Khâm. Hẹn gặp lại!

GIÁ: 199.000Đ/KHÁCH

tindulichhue.com-mua-thu-hue.1

Cầu Trường Tiền Huế

BAO GỒM:

– Xe chất lượng cao

– Hướng dẫn viên nhiệt tình, vui vẻ, với 2 thứ tiếng Anh và tiếng Việt

– Thuyền rồng trên sông Hương

– Ăn trưa Buffet 50 món ẩm thực Huế tại nhà hàng Thăng Long City Tour Huế

KHÔNG BAO GỒM:

– Vé tham quan các điểm di tích cố đô Huế

– Chi phí cá nhân trong chuyến đí

– Nước uống trong buffet trưa

– Tiền Tips cho HDV và lái xe

– VAT

MỌI CHI TIẾT XIN VUI LÒNG LIÊN HỆ 0935.167.222 ĐỂ BOOK VỚI GIÁ RẺ NHẤT

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (2 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +2 (from 2 votes)

Giá vé tham quan cố đô Huế 2015

lang-khai-dinh
Ngày 24-11, UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế cho biết vừa ban hành quyết định về mức thu phí tham quan di tích lịch sử văn hoá Huế thuộc quần thể di tích Cố đô Huế.

Theo đó, từ ngày 1-4-2015, mức giá vé đồng nhất cho khách trong nước và nước ngoài ở Hoàng Cung Huế (Đại Nội – Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế) là 150.000đồng/lượt.

Lăng Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định 100.000đồng/lượt.

Lăng Gia Long, Thiệu Trị Đồng Khánh, điện Hòn Chén là 40.000 đồng/lượt.

Cung An Định, đàn Nam Giao 20.000 đồng/lượt.

Đối với trẻ em (từ 7 – 12 tuổi) giá vé vào Hoàng Cung Huế là 30.000đ/lượt; các lăng: Tự Đức, Khải Định, Minh Mạng 20.000 đồng/lượt.

Giá vé gộp theo tuyến tham quan: Tuyến 3 điểm, Hoàng Cung Huế – Minh Mạng – Khải Định là 280.000 đồng; tuyến 4 điểm, Hoàng Cung Huế – Minh Mạng – Tự Đức – Khải Định 360.000 đồng. Đối với trẻ em (từ 7 – 12 tuổi), tuyến 3 điểm, Hoàng Cung Huế – Minh Mạng – Khải Định là 55.000 đồng/lượt; tuyến 4 điểm, Hoàng Cung Huế – Minh Mạng – Tự Đức – Khải Định 70.000 đồng/lượt.

Miễn vé tham quan đối với các ngày lễ (26-3 và 2-9), tết chokhách tham quan trong nước, người khuyết tật, trẻ em dưới 6 tuổi, học sinh các trường tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế tổ chức tham quan ngoại khóa hàng năm có đăng ký với Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế.

Miễn 50% giá vé đối với sinh viên các trường đại học, trung học chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế do nhà trường tổ chức tham quan ngoại khóa hàng năm có đăng ký với Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế.

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (3 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +2 (from 2 votes)

Tour ghép Đà Nẵng Hội An 1 Ngày

Ngu-Hanh-Son

Phố cổ Hội An được mệnh danh là “Venice của Việt Nam”. Sản phẩm “Đêm phố cổ” đã góp phần rất lớn để Hội An được mệnh danh là mảnh đất của lễ hội, là địa phương giỏi làm du lịch văn hóa của Việt Nam. Đến với Hội An, du khách không chỉ khám phá nét cổ kính của kiến trúc, mà tìm hiểu về ẩm thực, và sự mến khách của con người đất Quảng.

CHƯƠNG TRÌNH TOUR GHÉP HÀNG NGÀY ĐÀ NẴNGHỘI AN 1 NGÀY

TỔ CHỨC BUỔI SÁNG HOẶC BUỔI CHIỀU

08h30/15h30: Xe và HDV đón quý khách tại khách sạn hoặc nhà riêng. Đoàn khởi hành đi Ngũ Hành Sơn.

Ngũ Hành Sơn cách trung tâm 8km với năm ngọn núi được nằm theo hệ Ngũ Hành, dường như ai từng biết đến Đà Nẵng là biết đến Ngũ Hành Sơn. Không gian huyền ảo, thơ mộng, chùa chiền và hang động, cây cỏ và tiếng chuông chùa. Ngũ Hành Sơn từ lâu đã thật sự là một cõi thiên thai dành cho du khách.

Động Huyền Không - Ngũ Hành Sơn

Động Huyền Không – Ngũ Hành Sơn

Tại đây, quý khách tham quan Làng đá Mỹ nghệ Non Nước, một trong bốn ngôi làng cổ tại Quảng Nam – Đà Nẵng xưa kia tập trung vào nghề đúc, đẽo và tạc đá.

Tiếp tục chương trình, quý khách sẽ thượng sơn tham quan ngọn Thủy Sơn, ngọn núi lớn nhất và đẹp nhất Ngũ Hành Sơn. Tiếp theo quý khách sẽ tham quan từng công trình từ Hạ Thai, Trung Thai đến Thượng Thai, nổi tiếng nhất như: Tháp Xá Lợi, Chùa Linh Ứng 1, động Tàng Chơn, động Vân Thông, Huyền Không quan, Vọng Giang Đài, Chùa Tam Thai sau đó hạ sơn bằng đường bộ.

Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng

Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng

10h00/17h00: Xe và HDV tiếp tục đưa đoàn tham quan phố cổ Hội An

10h30/17h30: Quý khách bắt đầu tham quan phố cổ Hội An, đây là phố đèn lồng đẹp nhất vào ban đêm mang phong cách đậm chất phố người Hoa. Trong tour quý khách sẽ có dịp tham quan chùa Cầu Nhật Bản, xây dựng vào đầu thế kỷ 17, một biểu tượng độc đáo và rất thân thương của người Hội An.

Hội Quán Phúc Kiến Hội An

Hội Quán Phúc Kiến Hội An

12h00/19h00: Đoàn tập trung, dùng bữa tại nhà hàng và thưởng các đặc sản tại Hội An.

Sau đó, quý khách sẽ tham hai trong các điểm sau: Hội Quán Quảng Đông, Hội Quán Phúc Kiến, nhà cổ Tấn Ký, nhà cổ Phùng Hưng. Tự do mua sắm.

Nhà cổ Tân Ký Hội An

Nhà cổ Tân Ký Hội An

14h00/20h30: Xe và HDV sẽ đưa đoàn về Đà Nẵng.

15h00/21h30: Trả khách tại điểm đón ban đầu. Chào tạm biệt. Kết thúc Tour ghép Đà Nẵng Hội An 1 Ngày

QUY ĐỊNH ĐẶT TOUR

* Đối với tour trong ngày:
– Đoàn từ 1 – 4 khách: quý khách không cần đặt cọc trước.
– Đoàn từ 5 khách trở lên: chúng tôi sẽ làm phiếu xác nhận và nhận đặt cọc của quý khách.
* Đối với tour dài ngày:
– Tất cả các đoàn đều cần đặt cọc và đặt tour chậm nhất trước 07 ngày trước ngày khởi hành (đối với mùa cao điểm), trước 03 ngày trước ngày khởi hành (đối với mùa thấp điểm).

HƯỚNG DẪN ĐẶT TOUR:

Quý khách có thể chọn 1 trong những lựa chọn đặt tour sau:
- Cách 1: Quý khách tham khảo các tour trên mạng để lựa chọn một tour phù hợp; hoặc có thể điện thoại trực tiếp 0903.582.822 để được tư vấn một tour thích hợp với thời gian của quý khách.
- Cách 2: Quý khách liên hệ bằng cách gởi email booking vào mail:info@webdulichhue.com để biết thông tin các chương trình cần đặt

GIÁ TOUR

>= 7 khách 500.000 VNĐ/ Người lớn
>= 4 khách 550.000 VNĐ/ Người lớn
>= 2 khách 600.000 VNĐ/ Người lớn

ĐỂ BIẾT THÊM CHI TIẾT XIN VUI LÒNG LIÊN HỆ SĐT: 0935.167.222 hoặc dulichhue75@gmail.com

DỊCH VỤ BAO GỒM:
– Xe du lịch đời mới, hệ thống máy lạnh, lái xe kinh nghiệm.
– Vé tham quan: Vé Ngũ Hành Sơn, Vé Hội An
– Ăn theo chương trình (1 bữa * 120.000/suất)
– Hướng dẫn viên: Vui vẻ, nhiệt tình, hướng dẫn viên suốt hành trình.
– Bảo hiểm du lịch trọn tour
– Nước Suối: 500ml /người/ngày

KHÔNG BAO GỒM:
– Ăn uống ngoài chương trình, điện thoại, giặt là, các chi phí cá nhân khác.
– Vé máy bay, tàu hỏa trong chương trình.
– VAT.

GIÁ TRẺ EM:
– Trẻ em từ 1 – 4 tuổi: miễn phí
– Trẻ em từ 5 – 10 tuổi tính 50% vé dịch vụ.
– Trẻ em từ 11 tuổi trở lên tính nhưng người lớn.

GHI CHÚ:
– Cung cấp danh sách đoàn gồm đầy đủ các thông tin cá nhân, điện thoại liên lạc.
– Giá trên không áp dụng cho khách nước ngoài.

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (2 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +2 (from 2 votes)

Khu nghĩa địa Thái giám ở Việt Nam

879884b792.jpeg

Cách TP Huế khoảng 5 km về phía Tây Nam, tại thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, tỉnh Thừa Thiên – Huế, nghĩa địa các hoạn quan triều Nguyễn nằm trầm mặc trong khuôn viên chùaTừ Hiếu với bốn bề cây cối um tùm.

Rêu phong phủ dày cổng chính

Rêu phong phủ dày cổng chính

Theo sử sách, đời vua Thiệu Trị năm 1843, thái giám Châu Phước Năng đã góp công đức vào chùa Từ Hiếu với mong muốn khi sống cảnh đời tủi hổ thì khi chết còn có nơi nương nhờ nhang khói. Kể từ đó, chùa Từ Hiếu còn có tên là chùa Thái giám. Đến thăm nghĩa địa hôm nay, khách lữ hành sẽ thấy một khu lăng mộ với tất cả 25 ngôi mộ được chia thành 3 hàng theo chức sắc của mỗi người khi sinh thời. Hàng đầu tiên là những ngôi mộ lớn nhất được đắp xây kiên cố nằm đơn lẻ từng mộ. Hàng thứ 2 nhỏ hơn và nằm từng cặp với nhau, hàng thứ ba nhỏ nhất, chia thành từng cụm 3 mộ. Mỗi mộ như vậy được gắn một tấm bia đá bằng chữ Hán ghi rõ tên, tuổi, ngày mất. Tuy nhiên có 2 ngôi mộ không được xây đắp, đó là những “mộ gió” chỗ để dành sẵn cho 2 hoạn quan vào thời điểm đó.

Khu nghĩa địa này nằm trong một mảnh đất hình chữ nhật có diện tích gần 1.000m2, được bao quanh bởi bốn bức tường dày 0,79m; cao 1,78m, mặt trước trổ 3 cánh cổng lớn.

Khu nghĩa địa này nằm trong một mảnh đất hình chữ nhật có diện tích gần 1.000m2, được bao quanh bởi bốn bức tường dày 0,79m; cao 1,78m, mặt trước trổ 3 cánh cổng lớn.

Những ngôi mộ này được bao bọc bằng một dãy tường rào cao 1,78 mét, dài 26,03m, rộng 19,05m với tam quan uy nghiêm. Cổng chính giữa là một ngôi miếu có đặt một lư hương lớn trước có tấm bia đá được dựng từ năm 1901 do Cao Xuân Dục soạn. Đó là lời khắc với tâm sự hết sức cảm động, rằng: “trong khi sống chúng tôi sẽ tìm thấy ở đây sự yên lặng, khi đau ốm chúng tôi đến đây lánh mình và sau khi chết chúng tôi được an táng cùng nhau. Sống hay chết, ở đây chúng tôi đều được yên tĩnh”. Triều đình triều Nguyễn, có khoảng 200 thái giám. Trong gia đình có hoạn quan được ăn lộc vua, nhân dân trong làng đó được miễn sưu thuế trong 3 năm. Bộ Lễ trong triều có trách nhiệm ghi danh, thống kê “giám sanh” trên tất cả địa phương rồi tiến lên vua. Triều Nguyễn cũng quy định trang phục riêng cho Thái giám: cấp cao áo màu lục, cấp thấp áo màu lam, các quy định về chức tước cũng hết sức rõ ràng, gồm 5 bậc như quảng vụ, điển sự, cung phụng… theo đó, quy định về số gạo và tiền được hưởng hàng tháng cũng khác nhau.

Nấm mồ quạnh quẽ của các hoạn quan

Nấm mồ quạnh quẽ của các hoạn quan

Đời sống một hoạn quan khi vào triều là những giờ canh cho vua ân ái với các phi nữ, họ cẩn thận ghi chép lại những cuộc mây mưa cho hoàng thượng. Chính do có dịp gần gũi với nhà vua cho nên trong lịch sử đã có nhiều hoạn quan là những đại thần xu nịnh. Trên tấm bia ghi vào ngày 17/3/1836 tại Văn miếu (Đại Nội, TP Huế) vẫn còn bài dụ của vua Minh Mạng đại ý là để hạn chế vai trò và quyền lực của thái giám trong Tử Cấm Thành. Ngoài ra, triều đình còn dành riêng cho các thái một cung gọi là Cung Giám viện ngoài Đại Nội (nay nằm ở góc đường Đặng Thái Thân và Đoàn Thị Điểm) để dưỡng bệnh.

Nằm trong một góc khuôn viên rộng lớn và tĩnh mịch của chùa Từ Hiếu - ngôi chùa nổi tiếng cách Hoàng thành Huế 7km về phía Tây Nam - có một khu nghĩa địa đặc biệt: nghĩa địa của các vị thái giám nhà Nguyễn.

Nằm trong một góc khuôn viên rộng lớn và tĩnh mịch của chùa Từ Hiếu – ngôi chùa nổi tiếng cách Hoàng thành Huế 7km về phía Tây Nam – có một khu nghĩa địa đặc biệt: nghĩa địa của các vị thái giám nhà Nguyễn.

Trong lịch sử vẫn có nhiều vị quan thái giám có công lớn với quốc gia như: Lý Thường Kiệt (1019- 1105) phục vụ 3 đời nhà Lý, nổi danh với chiến công phá Tống bình Chiêm. Thời vua Gia Long có Tả thần – khai quốc tướng công Lê Văn Duyệt (1763-1832). Tuy nhiên đến thời Minh Mạng thì ông bị thất sủng, năm 1824, vua ban chiếu chỉ các hạt hạn chế tuyển chọn thái giám vào cung.

Các ngôi được sắp xếp theo chức tước từng vị quan khi còn sinh thời

Các ngôi được sắp xếp theo chức tước từng vị quan khi còn sinh thời

Cũng như số phận chung của các hoạn quan phong kiến, vào triều Nguyễn họ là những người thiệt thòi, sống trong nỗi cô đơn, buồn tủi hơn những triều đại trước rất nhiều. Họ bị kỳ thị, bị gạt ra khỏi đời sống như những con người biến thái của xã hội đương thời. Cho đến lúc chết, họ mới được lấy “của quý” về mang theo về “chín suối”. Sau năm 1945, khi vua Bảo Đại thoái vị trao ấn kiếm cho cách mạng, thái giám nhanh chóng rơi vào quên lãng. Và nghĩa trang thái giám trong khuôn viên chùa Từ Hiếu có lẽ cũng ít ai biết.

Một số bia vẫn còn rõ những hàng chữ khắc tên tuổi, quê quán, chức danh, ngày mất... của viên thái giám.

Một số bia vẫn còn rõ những hàng chữ khắc tên tuổi, quê quán, chức danh, ngày mất… của viên thái giám.

Khi đến thăm thu nghĩa địa này, cảnh tượng khác xa với những gì chúng tôi nghĩ, khu nghĩa địa sẽ đồ sộ với những bờ tường cao được chạm trổ rồng phượng nhưng thực ra nó chỉ như một phế tích, cảnh vật hoang tàn. Theo thời gian khu nghĩa địa dần xuống cấp trầm trọng. Mặc dù nằm trong chùa Từ Hiếu hữu tình nhưng khách thập phương khi đến chùa chỉ quan tâm đến cúng bái, hành lễ tâm linh chứ ít ai để ý đến đống đổ nát đó.

Bên ngoài khu nghĩa địa của các thái giám còn rất nhiều những ngôi mộ khác của các cung tần, mỹ nữ từng sống trong cung đình nhà Nguyễn. Theo lệ, hàng năm cứ đến rằm tháng 11, chùa Từ Hiếu lại tổ chức ngày giỗ chung để tưởng nhớ những người đã mất được chôn trong khuôn viên chùa, không kể đó là thái giám hay người thường...

Bên ngoài khu nghĩa địa của các thái giám còn rất nhiều những ngôi mộ khác của các cung tần, mỹ nữ từng sống trong cung đình nhà Nguyễn. Theo lệ, hàng năm cứ đến rằm tháng 11, chùa Từ Hiếu lại tổ chức ngày giỗ chung để tưởng nhớ những người đã mất được chôn trong khuôn viên chùa, không kể đó là thái giám hay người thường…

Nghĩa địa hoạn quan tại Huế không chỉ là một khối kiến trúc độc đáo mà nó còn là nghĩa địa duy nhất Việt Nam ghi dấu một tầng lớp từng tồn tại và phục vụ cho giai cấp phong kiến thống trị trong lịch sử. Nhưng khi đến thăm khu nghĩa địa này nhiều người không khỏi bùi ngùi về nơi an táng của các hoạn quan. Chốn tôn nghiêm đó bị những kẻ vô tâm xâm hại bằng cách viết vẽ nguệch ngoạc, cỏ dại, rêu phong khắp nơi.

Những ngô mộ ở hai hàng phía sau có kích thước nhỏ hơn. Các ngôi mộ có bia đặt trên bục cao ở phía trước.

Những ngô mộ ở hai hàng phía sau có kích thước nhỏ hơn. Các ngôi mộ có bia đặt trên bục cao ở phía trước.

Tấm bia chữ Hán ghi lại tâm tư cảm động do Cao Xuân Dục soạn năm 1901

Tấm bia chữ Hán ghi lại tâm tư cảm động do Cao Xuân Dục soạn năm 1901

Cứ tình trạng trên kéo dài, một ngày không xa nghĩa địa đó cũng lặng lẽ biến mất như chính sự lặng lẽ của các hoạn quan. Thiết nghĩ, cơ quan chức năng nên khẩn trương có các biện pháp phục hồi, bảo tồn.

(Sưu tầm)

VN:F [1.9.22_1171]

Tường Vân – ngôi chùa từ thuở ấu thơ

e4dcb98a95.jpeg

Chùa Tường Vân, ngôi chùa từ thuở của tôi. Đây là ngôi chùa tôi đã đến từ lúc còn rất nhỏ, nó chỉ cách nhà tôi chưa đầy 100m. Đây cũng là ngôi chùa mà cả bố tôi, bà nội tôi, và gia đình tôi đều có những mối liên hệ hết sức thân thiết.

Chùa Tường Vân hiện nay nằm về phía tây thành phố Huế toạ lạc trên vùng đồi núi làng Dương Xuân Hạ (nay thuộc Phường Thủy Xuân, Thành phố Huế). Theo đường Điện Biên Phủ, quá chùa Từ Đàm, rẽ về phía tay phải theo đường Trần Thái Tông, khoảng 4, 5 trăm mét thì đến chùa. Địa điểm này tuy đã có từ trước, nhưng thực sự có chùa Tường Vân ở đây chỉ kể từ năm Tự Đức thứ 22 (1869) đến nay.

chua-tuong-van7

Theo nhưng tài liệu còn ghi lại thì khởi thủy vốn là thảo am Tường Vân (còn gọi Đông Am) do ngài Tánh Hoạt Huệ Cảnh (đệ tử của Hoà Thượng Đạo Minh Phổ Tịnh) thuộc đời thứ 38 của dòng Lâm Tế chánh tông lập ra vào khoảng năm 1843 dưới đời vua Thiệu Trị. Khi Ngài lập thảo am Tường Vân thì Tùng Thiện Vương Miên Thẩm cũng năng lui tới nơi đây, ông là một nhà thơ lớn dưới triều Tự Đức, rất thích cảnh thiên nhiên và mến mộ chốn thiền môn. Bên cạnh đó, Ngài Tánh Huệ Nhất Chơn (đều đồng bổn sư là Hoà Thượng Đạo Minh Phổ Tịnh), cũng khai sơn chùa Từ Quang, cách Đông Am khoảng mười dặm. Tuy nhiên, Ngài Tánh Huệ Nhất Chơn lại không có đệ tử để truyền thừa, cho nên khi tại thế đã dặn dò là sau khi ngài mất thì giao chùa Từ Quang lại cho ngài Hải Toàn Linh Cơ là đệ tử được Ngài Tánh Hoạt Huệ Cảnh chọn làm trụ trì thảo am Tường Vân để quản nhiệm, chăm sóc hương khói và làm nơi tu tập…

chua-tuong-van6

Tháng 10 năm Tự Đức thứ 22 (1869), ngài Hải Toàn về ở chùa Từ Quang và phối hợp am Tường Vân hợp nhất với chùa Từ Quang làm lại một mgôi chùa mới, và đặt tên là chùa Tường Vân, lúc này vẫn còn là ngôi chùa tranh. Như vậy, chùa mang tên Tường Vân là ngài Linh Cơ muốn giữ tên cũ thảo am của bổn sư mình, nhưng được xây dựng trên đất chùa Từ Quang cách am cũ khoảng 10 dặm, tọa lạc tại làng Dương Xuân hạ. Còn đất am cỏ Tường Vân xưa thì ngài Linh Cơ đã nhường lại cho phủ Tùng Thiện Quận Vương, hiện nay vẫn đang còn. Sau đó, đến năm Tân Tỵ (1881) được sự ủng hộ của hàng tôn nhơn quý tộc ở triều đình, bà Thái Hoàng Thái Hậu Trang Ý cùng các phi tần; ngài Linh Cơ đã trùng tu chùa tranh trở thành ngôi chùa ngói có quy mô hơn cùng với các tự khí và Phật tượng.

chua-tuong-van1

Đến năm Canh Dần (1890) chùa lại tiếp tục được trung tu nhờ sự hỗ trợ của bà Từ Dũ Thái Hoàng Thái Hậu và các cung nga cung phi, các bậc phu nhân trong triều. Công việc đại trùng tu đến năm sau (1891 tức năm Thành Thái thứ ba) mới hoàn thành. Ngôi chùa trở thành huy hoàng rực rỡ và có tăng bổ thêm ngôi hậu điện. Sau khi hoàn tất, ngài Hải Toàn đã viết thư xin Tuy Lý Quận Vương Miên Trinh viết cho bài văn bia “Trùng Tu Tường Vân Tự Bi” dựng năm Thành Thái thứ 4 (1892). Đến năm Thành Thái thứ 6 (1896) chùa được “Sắc tứ”. Theo những tài liệu còn lưu lại thì bà Vĩnh Lại Quận Công phu nhân có pháp danh Thanh Từ, đã tiến cúng bức hoành phi “Sắc tứ Tường Vân Tự”, hiện nay vẫn đang còn. Tháng 3 năm 1972, Hoà thượng Tịnh Khiết đã khởi công mở cuộc trùng tu lớn lao thêm chùa Tường Vân, cho nên phạm vi chùa cũng đã được nới rộng ra thêm nhiều. Hiện nay Hoà Thượng Thích Minh Châu là đệ tử của Đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết được tiếp tục làm trụ trì ngôi chùa này.

Ngôi chùa Tường Vân hiện nay có một tiền đường và một đại điện kiến trúc theo kiểu trùng thiềm nhưng có cải cách. Đi qua một cổng chùa đồ sộ, người ta đến một khoảng sân, lên mấy bậc tầng cấp thì lại đến một khoảng sân cao hơn. Chiếc cổng này mới được xây dựng trong lần trùng tu gần nhất. Trước đây cổng chùa Tường Vân nhỏ hơn, nằm bên hông chùa quay mặt về hường Bắc chứ không phải thẳng với chính điện như bây giờ.

chua-tuong-van2

Ngày xưa cổng tam quan chùa luôn là nơi tôi dừng chân nghỉ ngơi mỗi buổi trưa nóng nực khi đi học về, có khi nền xi măng lại là tấm bảng tạm thời cho một bài hình học khó vẫn còn đeo đẳng trên đường về. Khoảng sân rộng với hồ nước hình bán nguyệt và hòn non bộ, nơi mà hồi còn nhỏ bọn trẻ con chúng tôi rất thích nghịch phá. Giữa sân là một cái giếng nhỏ sâu hun hút luôn được đóng kín, nước ít nhưng trong vắt, nơi đây hồi còn bé tôi vẫn nghe kể chỉ lấy nước để cúng Phật mà thôi.

Tiền đường xây dựng trên nền cao. Bảy bậc tầng cấp lên tiền đường kéo dài suốt ba gian, hai đầu có hai con nghê chầu, có những vế đối bằng chữ Hán rực rỡ. Mặt tường hai chái đắp hình nổi diễn tả tích Ngài Đường Huyền Trang đi thỉnh kinh, sát góc ngoài có dựng hai tấm bia ngày xưa nói về những lần trùng tu chùa.

chua-tuong-van3

Giữa hai tầng mái, vách trùng thiềm chia làm ba khung, mỗi khung có bốn chữ Hán. Các góc mái cong lên, có cù giao đẹp, tua vân kiên chạy dài theo giọt mái ngói. Nóc tiền đường và nóc đại điện kiến trúc rất đẹp. Hai bên có hai con rồng uốn lượn châu mặt vào hình Pháp luân ở giữa.

Trong chánh điện, cách thờ tự cũng giản dị. Sau khi qua khỏi minh đường, thì thấy bàn thờ chính; trên đó đức Thích Ca Mâu Ni ở giữa; hai bên là đức Phật A Di Đà và đức Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Hình ảnh nầy cũng thường trong đa số những ngôi chùa miền Trung.

Đi sâu vào thì thấy có tượng của Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát, đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát. Những bảo vật và những Pháp bảo cũng được thờ cúng ở chánh điện chùa nầy. Sau chánh điện là nơi thờ Tổ khai sáng ra ngôi chùa Tường Vân; án giữa thờ ngài Thích Huệ Cảnh và ngài Thích Hải Toàn; án bên trái thờ ngài Thích Tịnh Nhẫn, Thích Viên Quang và Thích Chánh Pháp; án bên phải thờ ngài Thích Thanh Thái; đi sâu vào nữa, phía giữa thờ ngài Thích Tịnh Khiết và Thích Tịnh Hạnh.

chua-tuong-van4

Toàn bộ hệ thống kiến trúc chùa theo hình chữ khẩu, kiểu kiến trúc của chùa Huế truyền thống gồm chùa, hậu tổ, tăng đường và trai đường khép kín tạo thành một khoảng sân nhỏ ở giữa đặt chậu hoa cây kiểng vừa trông rất thiên nhiên vừa tạo được sinh khí trong chùa. Tôi vẫn còn nhớ trước đây trong khoảng sân nhỏ này có một chú rùa cạn sinh sống, vẫn thường hay bị lũ trẻ chúng tôi trêu học, có đứa còn vật ngửa chú ta ra nữa.

Lùi về phía sau là hậu đường của chùa, nơi thờ cúng Thập phương bổn đạo đến ký linh trải qua nhiều đời. Bên phải (từ hậu đường nhìn lên hậu tổ) là Tăng xá, gian chính giữa có thiết hương án chạm trổ mỹ thuật nghiêm trang đẻ thờ Đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết. Bức chân dung của ngài thờ trên hương án thật uy nghiêm và đạo hạnh. Đối qua trái là nhà khách. Phần sân vuông ở giữa có bể nước, cây cảnh thiết trí như một vườn hoa tươi. ở Tăng xá đi lên, nhà chùa có thiết lập một nhà lưu niệm gồm có gường nằm, sách vở, kinh Phật; đồ dùng lúc tại thế của Đức Tăng Thống.

chua-tuong-van5

Nhìn chung lại, chùa Tường Vân chưa hẳn là ngôi chùa trong vùng đế kinh, tuy nhiên về lãnh vực xây dựng và truyền bá Phật pháp, thì Tổ đình nầy đã đóng một vai trò quan trọng.

VN:F [1.9.22_1171]
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Huyền Không Sơn Thượng – chốn thanh bình nơi cửa Phật

4567206c72.jpeg

Huế nổi tiếng không chỉ vì là nơi tập trung những đền đài lăng tẩm của các vua triều Nguyễn, nơi có những ngôi chùa, nhà thờ, đền đài nổi danh, nơi có những con người với danh xưng “người Huế trầm mặc”, mà Huế còn nổi tiếng vì có một thiên nhiên tươi đẹp. Có rất nhiều điểm đến ấn tượng ở Huế, tuy nhiên có một khu du lịchsinh thái tuyệt đẹp mà không phải khách tham quan nào cũng biết, đó là chùa Huyền Không Sơn Thượng.

Cách cố đô Huế chừng hơn 10km về hướng Tây, thuộc thôn Đồng Chầm, xã Hương Hồ, huyền Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Để đến được Huyền Không Sơn Thượng , du khách phải đi qua chùa Thiên Mụ, theo con đường dọc sông Hương, qua Văn Thánh, Võ Thánh, qua cầu Xước Dũ, rồi đi khoảng hơn 1km nữa rồi rẽ phải vào thôn Đồng Chầm. Từ đây, đi tiếp chừng 500m, đường này sẽ cắt ngang đường chính Huế, thẳng trước mặt sẽ thấy một cổng làng Văn hóa thôn Đồng Chầm. Qua cổng làng chừng 200m, nhìn bên phải có một tấm biển chỉ dẫn bởi những mốc đá nhỏ ven đường, tuy chỉ là đá đẽo thô mộc nhưng nét bút ghi rõ danh hiệu chùa lại uyển chuyển đến kỳ lạ, đúng theo lối thư pháp quốc ngữ đang thịnh hành. Những mốc đá đôi khi khuất sau lùm cây bụi cỏ, hoặc chơ vơ ngay bên đường, nhưng nếu tinh ý quan sát sẽ thấy chút hơi hướng của tâm hồn thi sĩ đang mở lòng đón bước chân lạ. Theo lộ trình này gần 3km nữa là đến Huyền Không Sơn Thượng. Do đặc điểm địa lý, đồi tiếp đồi nên đường vào chùa uốn lượn quanh co, đường nay đã được cải tạo, nâng cấp khá thuận lợi cho du khách đến tham quan.

chu-tieu-huyen-khong-son-thuong

Đặt chân đến Huyền Không Sơn Thượng du khách sẽ bắt gặp một không gian thật yên tĩnh, cảnh quan kỳ ảo đẹp như trong chuyện cổ tích. Một cây cầu gỗ bắc qua dòng suối nhỏ nở đầy hoa súng tím ngát đưa khách vào Thanh Tâm Viên, sân trước tòa Phật điện.

Khuôn viên chùa là một khu vườn xanh ngắt với những cảnh quan kỳ ảo, đẹp như trong chuyện cổ tích. Một cây cầu gỗ bắc qua dòng suối nhỏ nở đầy bông súng tím ngát đưa khách bước vào Thanh tâm viên, sân trước toà Phật điện. Những dò hoa phong lan quí hiếm, được chọn trong 500 giỏ lan quý nuôi trồng ở vườn dưới sân chùa, được thay đổi mỗi ngày, với đủ sắc màu rực rỡ, đua sắc, khoe hương. Những cây sứ, thiên tuế, tùng, bách…cổ thụ hàng trăm năm tuổi, điềm đạm xòe những tán lá rậm rạp, ung dung che chở nắng gió cho những khoảng sân và lối đi lát gạch Bát Tràng màu nâu đỏ. Đây đó, dưới bóng những cây tre ngà lao xao, khu rừng trúc um tùm là những bộ bàn ghế để khách nghỉ chân, tận hưởng sự yên ả thanh bình nơi cửa Phật.

Một quần thể kiến trúc rõ ràng là nơi tu hành song được kiến tạo theo phong cách trang nhã với những hình khối nhỏ xinh bằng tranh tre, gợi lên thi hứng hơn là cảm giác u mặc, và những bức thư họa trang trí trong nội thất khiến ta liên tưởng rõ rệt tới một không gian văn hóa cổ điển hơn là sự nghiêm cẩn chùa chiền.

chua-huyen-khong

Bản thân ngôi chính điện cũng không dựng theo lối thông thường với tường, vách, cột, bệ thờ… như các chùa vẫn gặp. Chính điện ở đây là ngôi nhà nhỏ, giản dị, mái thấp và đơn sơ vách gió lùa. Tượng Phật đặt chính giữa gian mà có cảm giác lộ thiên, như hòa thân bất hoại vào vũ trụ, toả tinh thần hỷ xả tới mọi tâm linh, để ngay sau khi dâng hương làm lễ, ta đã có cảm giác thân thuộc với từng góc nhà, từng gốc trúc trong sân chùa. Bên trái là nhà đọc sách, bên phải là nhà sinh hoạt, rải rác phía sau là những căn nhà gỗ nhỏ, nơi xướng họa, tiếp khách của nhà chùa, bộ bàn ghế thấp, bình trà nghi ngút hơi và những cái chén nhỏ sạch sẽ, tạo nên một không gian giản dị mà đầm ấm.. Đi qua khu vườn trúc là đến nơi dành cho những người yêu thích văn chương thi phú tìm đến để đàm đạo, bình thơ, ngắm gió trăng mây núi, là nơi các nhà thư pháp tập họp để luyện bút, phô chữ. Có lẽ vì thế, thư pháp hiện diện khắp nơi, khắc trên đá trong vườn, chạm trên gỗ, trang trọng treo trên tường, ghi trên cột cổng tam quan… Đó là những lời Phật dạy, những điều hay lẽ phải răn đời và răn người, là những cảm xúc bất chợt của các cây bút, là những bài thơ của các nhà thơ nổi tiếng. Nơi đây, dưới gốc cây cổ thụ là bức tượng đá nổi tiếng do cố điêu khắc gia Điềm Phùng Thị tạc, gửi tặng chùa một dáng ưu tư của thiền sư trong bóng núi mây ngàn.

huyen khong son thuong

Ở phía sau dãy nhà tăng xá là cả một rừng thông cổ thụ rậm rạp trên ốc đảo giữa hồ Hàm Nguyệt Trì. Đây là nơi diễn ra những cuộc triển lãm thư pháp trong thời gian Huế tổ chức Festival. Trên mỗi cây thông có gắn một cái giá bằng gốc tre. Đêm đêm, những chiếc đèn dầu đặt trên đó tỏa ánh sáng mờ ảo, hư hư thực thực, đầy quyến rũ.

Về Huyền Không Sơn Thượng, giữa đất trời bao la, được trải lòng mình ra với thiên nhiên dân dã, để sống thật với chính mình, gạt bỏ những âu lo, phiền muộn.

VN:F [1.9.22_1171]
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Hiền hòa những ngôi chùa làng – Huế

3e17773afb.jpeg

Chùa Huế – Ở vùng đất Huế, khi Chúa Nguyễn Hoàng vào xứ Thuận Hóa đã mang theo tinh thần của Phật giáo, đi đến đâu cũng đều lập chùa. Thuở ban đầu, chùa làng chỉ là một ngôi nhà nhỏ, dựng bằng tranh tre nứa lá, mãi đến sau này, những ngôi chùa làng mới được xây dựng kiên cố với những trang trí rồng, đắp nổi sành sứ. Mỗi ngôi chùa làng đều được xây dựng ở những nơi có thế đất tốt, ở vị trí đầu làng hay ở giữa làng. Thời nhà Nguyễn còn có chỉ dẫn cụ thể về việc xây dựng chùa.

Chùa Ưu Đàm, làng Ưu Điềm

Chùa Ưu Đàm, làng Ưu Điềm

Theo đó, “việc xây dựng chùa phải chọn đất tốt, ngày, giờ tốt. Đất tốt là nơi bên trái trống không, hoặc có sông- ao hồ ôm bọc. Trước mặt chùa có minh đường hay không có minh đường cũng được nhưng phía sau không nên có núi áp kề, ấy là thế đất tốt”. Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đại Vinh cho rằng “Chùa làng là loại chùa công có mặt sớm nhất ở Huế, đã trước bạ với tên xứ đất này. Thời Mạc, tại Huế đã có hai ngôi chùa nổi tiếng được sử sách ghi nhận: đó là chùa Sùng Hóa và chùa Thiên Mụ. Tuy nhiên, giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt tôn giáo, văn hóa xã hội của làng quê xứ Huế nói riêng, hay cả miền Trung nói chung, phải là ngôi chùa làng, ngôi chùa của một cộng đồng cư dân đã cùng chung khai phá một vùng đất, cố kết nhau trong một sinh hoạt tâm linh bền chặt, trải qua thử thách trên dưới năm, sáu trăm năm qua”.

Chùa làng là nơi sinh hoạt bình đẳng, là nơi tụ họp cả làng, ai cũng có thể đến chùa cầu nguyện. Nếu ngày xưa, đình chỉ là nơi dành cho nam giới đến hội họp, thì chùa là nơi luôn mở rộng cửa đón nhận tất cả mọi người. Hình ảnh ngôi chùa làng đã in dấu trong tâm trí của bao thế hệ với hình ảnh thầy trụ trì hiền hậu, với tiếng chuông chùa mỗi sớm, mỗi chiều vang lên trong không gian quê yên bình, như nhắc nhở mọi người hãy sống thuận hòa, chăm lo cày cấy để có cuộc sống no ấm.

Về mặt kiến trúc, những ngôi chùa làng thường được xây theo kiểu kiến trúc chữ Đinh, chữ Công, hay chữ Tam tùy theo công đức đóng góp. Chùa làng thường không có cửa hoặc có cửa nhưng không bao giờ đóng, cũng có khi nhà chùa chỉ xây dựng hai trụ biểu tượng trưng cho chiếc cổng. Vào các ngày lễ lớn như rằm tháng Tư, rằm tháng Tám, lễ, Tết, nam nữ trong làng và những người lớn tuổi thường đến chùa lễ Phật và sau đó xin một lời Phật dạy được các thầy chùa trích ra từ những bài kinh thành những câu răn dạy lối sống ở đời như hai câu đối ở cổng chùa Giác Lương (Làng Hiền Lương-xã Phong Hiền-huyện Phong Điền)

“Vô diệt vô sanh tuy vạn kiếp nhất bất cổ.

Nhược hiển nhược ẩn thông bách phước tứ vu kim”

Tuy là chùa làng nhưng nhiều ngôi chùa có kiến trúc qui mô. Nổi bật như chiếc cổng tam quan của chùa Giác Lương. Cổng được xây theo lối kiến trúc vọng lâu, trên là lầu, dưới là cổng. Mỗi chi tiết kiến trúc và trang trí trên chiếc cổng này đều cho người xem một cảm xúc hoài cổ. Thời gian để lại dấu rêu phong trên bề mặt nhưng vẫn không làm mờ nét tài hoa mà người thợ xưa đã để lại trong từng chi tiết nhỏ. Mặt hổ phù và hoa sen được khảm sành sứ thật sống động gợi nhớ về nét tinh hoa của làng nghề khảm sành sứ ở Huế. Trong không gian này, cảnh chùa xưa đem lại sự bình an trong lòng người viếng cảnh.

Chùa làng ngoài thờ Phật, Thánh, các vị thủy tổ các họ còn là nơi lưu giữ nhiều hiện vật cổ, quý mà phổ biến nhất là chuông. Trên chiếc Đại hồng chung đúc năm 1819 của chùa Giác lương, thân chuông còn khắc tên một số nghệ nhân nổi tiếng về nghề rèn và cơ khí của làng như ông Hoàng Văn Lịch, Trần Văn Đắc, Dương Phước Thiệu, Trương Quang Sừng… Xưa nhất là chuông chùa làng La Chữ (xã Hương Chữ- thị xã Hương Trà), được đúc dưới thời Tây Sơn duy nhất còn lại cho đến nay. Quả chuông được đúc vào năm Quang Trung thứ 4 (1791), do vợ chồng võ tướng triều Tây Sơn là Điện tiền Thái bảo Ngự giá Quận công Võ Văn Dũng – vợ là Lê Thị Vi, cùng với bố vợ là ông Lê Công Học – người làng La Chữ – đứng ra làm hội chủ cúng dường. Đây là quả chuông chùa độc đáo và kỳ lạ nhất ở Huế vì các hoa văn trên chuông không hề mang nặng dấu ấn của văn hóa Phật giáo mà được trang trí bằng bộ “Tứ thời”: Xuân – Hạ – Thu – Đông. Đặc biệt, trên thân chuông còn khắc hình chiếc gương và chiếc lược sưa, lược dày- những vật dụng của nữ giới. Dưới các ô có hình 8 vị võ tướng tay cầm khí giới trong hình dáng các thế võ, tương truyền là các thế võ của Tây Sơn…. Đặc biệt, trong ngôi chùa làng La Chữ này, có một gian nhà dành thờ bài vị của những võ tướng thời Tây Sơn như Điện tiền tướng quân Võ Văn Dũng và vợ là Lê Thị Vi, nữ tướng Bùi Thị Xuân, bà Lê Công Thị Nhơn – người đã nhường đất Hạ Lang để Bùi Thị Xuân luyện voi chiến.

Trong đời sống cộng đồng của người dân Việt, ngôi chùa làng trở thành tâm điểm của cả làng. Hàng năm vào các dịp lễ, Tết người dân trong làng đến thắp hương cầu nguyện. Những người dân quê hiền lành cùng với những lời cầu nguyện mùa màng tươi tốt, gia đạo bình yên, cuộc sống ấm no hạnh phúc, đó cũng chính là lời cầu nguyện mẹ cha sức khỏe, gia đình yên vui trong các ngày lễ lớn như Vu Lan. Ngôi chùa làng đã trở thành một mái ấm tinh thần của cư dân cả làng. Ai cũng đều có thể đến đây thỉnh một tiếng chuông, thắp hương lễ Phật, tìm thấy nơi đây sự bình yên và thanh thản trong tâm hồn. Cũng từ những dịp gặp gỡ tại chùa mà tình bà con, tình làng nghĩa xóm được thắt chặt hơn. Nề nếp của làng, của gia đình được giữ gìn bởi những vị tuổi cao đức trọng, những vị tộc trưởng.

Chùa làng cũng là nơi xuất phát nhiều danh sư. Chẳng hạn như từ ngôi chùa làng An Khánh (thuộc làng Dã Lê Chánh – xã Thuỷ Vân – thị xã Hương Thuỷ) nhiều danh sư đã từng tu tập tại đây như nhà sư Nguyễn Văn Quý- trụ trì chùa Pháp Vân – nơi tổ chức cuộc biến động (nhà Nguyễn gọi là Giặc chày vôi) chống vua Tự Đức năm 1866, Hoà thượng Thanh Thái Huệ Minh (vị tổ thứ 4 chùa Từ Hiếu), Hoà thượng Giác Nhiên (Chùa Thuyền Tôn), Sư bà Diệu Hương (khai sơn ni viện Diệu Đức), Hoà thượng Thích Mật Hiển (chùa Trúc Lâm).

Chùa làng còn là nơi gắn liền với nhiều danh nhân. Thuộc về địa phận xã Hương Xuân – Hương Trà, Thanh Lương là một trong những làng cổ của Huế, là nơi có nhiều người đỗ đạt cao, làm quan to. Chùa làng Thanh Lương được xây theo kiểu chùa cổ của Huế. Từ xa, dân trong làng dễ dàng nhìn thấy chiếc cổng chùa xây theo lối cổ lâu (hai tầng).

Đặc biệt, trong chùa làng Thanh Lương có thờ một danh nhân, đó là ông Đặng Văn Hoà. Ông là người làm quan nhưng thấm nhuần đạo Phật, ông đã cúng dường nhiều chuông, tượng Phật cho các chùa ở vùng đất Hương Trà như chùa Bác Vọng Đông, Bác Vọng Tây, Hoà Viện, Thanh Lương, Hiền Sĩ.

Tại chùa làng Thanh Lương, ông Đặng Văn Hoà còn tiến cúng một tấm bia đá, trên tấm bia này khắc ghi lịch sử của làng, các vị khai canh, khai khẩn và tên tuổi những người có công. Tất cả đều còn nguyện vẹn cho đến ngày hôm nay.

Ngôi chùa như là nơi che chở, chia sẻ, an ủi con người trong những lúc vui buồn và cả chuyện buồn sinh tử. Mỗi lúc như thế, thầy trụ trì chùa làng là người đứng ra lo liệu về mặt tâm linh, cầu kinh cho người quá cố theo phong tục của những người theo đạo Phật, tình cảm của dân làng và ngôi chùa làng cứ thế dày thêm theo năm tháng.

Ngày nay, những ngôi chùa làng ở các miền quê không còn cảnh “tranh tre nứa lá” mà đã được xây dựng kiên cố, thờ phụng trang nghiêm- đó là một kiến trúc không thể thiếu ở các làng quê Việt, là nơi mà mỗi sớm mai hay khi hoàng hôn, những tiếng chuông chùa ngân nga lưu giữ tình quê, để cho ai dù ở bốn phương trời, khi nhớ về quê cũ vẫn mong được nghe một tiếng chuông chùa, được ngắm nhìn làng quê trong buổi hoàng hôn với những cánh cò vội vã bay về tổ ấm.

VN:F [1.9.22_1171]

Vua Gia Long và phong thủy kinh thành Huế

cotcohue

www.tindulichhue.com – Sau ngày lên ngôi, vua Gia Long đích thân nghiên cứu tìm hướng tốt và cuộc đất thuận tiện xây dựng kinh thành Huế.

cotcohue
Đáp ứng lòng người trước khi định đô
Dân cư của 8 làng phải di dời đi nơi khác gồm: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế Lại, An Bửu, trong đó đất làng Phú Xuân hầu hết đều nằm gọn trong phạm vi kinh thành sẽ xây. Vì thế, vua Gia Long đã cấp 30 mẫu ruộng, 3 khoảng đất để dựng nhà và 1000 quan để giúp dân Phú Xuân – 7 làng còn lại theo tài liệu của Tả tham tri Bộ binh Võ Liêm mỗi nhà “được cấp 3 lạng và mỗi ngôi mộ dời đi được cấp 2 lạng”. Nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng trên tổng diện tích 520ha và chu vi 9.889m. Huỳnh Đình Kết nhận định đây là đợt giải tỏa lớn, triệt để và khẩn trương, tiến hành trong vòng 2 năm, riêng phần mộ vắng chủ quy tập về nghĩa trang Ba Đòn có đến 10.000 ngôi.

launguphung

Di dời xong, Gia Long chọn ngày tốt vào tháng tư âm lịch, nhầm 9.5.1804 dương lịch để bắt tay xây dựng vòng trong thành (vòng trong của Đại Nội) với tổng chu vi 4 cạnh là 307 trượng, 3 thước 4 tấc (1.229m), thành bằng gạch cao 9 thước 2 tấc (3m68) và dày 1 thước 8 tấc (0m72) – theo Võ Liêm. Sau đó, công việc tiếp tục qua nhiều giai đoạn, song nhìn toàn cục kinh thành Huế quay mặt về hướng Đông nam (Tốn) thay vì hướng chính Nam như các vua chúa thường chọn theo thuật phong thủy để xây cung điện của mình.
Vì sao vua Gia Long lại quyết định chọn hướng như thế? Nguyễn Đăng Khoa đề cập đến trong Kỷ yếu Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, số 7 1991 rằng, những công trình kiến trúc của kinh thành Huế được tiến hành theo một hệ thống các quy tắc hết sức nghiêm ngặt của các hình thế núi sông, long mạch “mặt bằng và độ cao thấp của địa hình được người xưa quan niệm đó là văn của đất, có cao, thấp, là có sông, suối, đầm, núi, tạo ra những nhịp điệu riêng của từng vùng – những nhịp điệu lớn chung của nhiều vùng nhỏ tạo ra những đại cuộc đất”. Cụ thể hơn, Trần Đức Anh Sơn qua tài liệu về tư tưởng quy hoạch kinh thành Huế thời Gia Long giới thiệu trên tập Cố đô Huế xưa và nay do Hội Khoa học lịc sử Thừa Thiên – Huế và NXB Thuận Hóa ấn hành 2005, đã cho biết nội dung cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính, nguyên văn:

1. Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.
2. Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi là bạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành mà sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.
3. Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ; phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng; phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.
4. Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.

sungthancong

Vận dụng dịch lý và thuật phong thủy bên bờ sông Hương
Bốn điều do học giả Vĩnh Cao lưu ý trên đây, theo nhận định của Trần Đức Anh Sơn đều xuất phát từ sự vận dụng dịch lý và thuật phong thủy vào địa hình cụ thể của Huế. Trước hết, hướng của kinh thành Huế quay mặt về Đông nam là do địa hình chi phối, vì nếu quay về hướng chính Nam như thường thấy Huế sẽ “lập với con sông Hương chảy theo hướng Tây nam – Đông bắc, ngang qua kinh thành một góc ước khoảng 45 độ, các yếu tố phong thủy như Minh đường, Thanh long, Bạch hổ… sẽ không còn giá trị. Trong khi đó, quay mặt về hướng Đông nam, kinh thành Huế sẽ có con sông Hương làm yếu tố Minh đường và hưởng được tính chất tốt của hai hòn đảo nhỏ tức Cồn Hến và Dã Viên. Thật vậy, theo GS. Nguyễn Thiệu Lâu, đảo Thanh Long và đảo Bạch Hổ cùng quay đầu về kinh thành để các luồng âm và dương thổi qua bảo vệ”.

ngomonhue
Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.
Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành).
Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.

11-01-2014_08

Đến đây, thiết tưởng chúng ta cần tham khảo thêm tài liệu của một học giả uy tín người Pháp qua cuốn Văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn quan học giả L.Cadiere, bản dịch của Đỗ Trinh Huệ, tài liệu này đưa ra giả thuyết vua Gia Long “khi bắt đầu xây dựng Hoàng thành và Tử cấm thành ngày 9.5.1804, ngày “Kỷ Vị” thì vào ngày 1.5.1803, ngày “Ất Vị”, ông ta đã phân định La thành, ngày “Quý Vị” 28.5.1805, nhà vua cho dựng lên thành lũy, ban đầu bằng đất rồi dần dần bằng gạch. Bằng những việc làm trên, có lẽ Gia Long đã hết sức củng cố thêm những phòng thủ ma thuật thiên nhiên mà tiên chúa Ngãi Vương đã dùng tới…Các cung điện của kinh thành đều có ghi rõ ràn các can chi, ngày khởi công xây dựng. Các bảng ghi ngày tháng xây dựng đều có ghi ngày tốt giờ tốt.
Hẳn rằng, Gia Long khi cho xây dựng đều cho tuân thủ các tập tục này: họ chọn ngày tốt và ngày hôm đó họ cũng thực hiện một thao tác quan trọng bậc nhất, đó là việc thượng lương. Trước hôm đó, họ cho chuẩn bị kỹ lưỡng: ban đất, chuẩn bị nền móng, trụ cột, bào đẽo các cột kèo…. Cũng như ở Tây phương, người ta tổ chức long trọng lễ đặt viên đá đầu tiên, nhưng ngày hôm đó không chính xác là ngày khởi công. Vì thế nên hiểu ý nghĩa của ngày tháng được nêu trong văn bản về các việc xây dựng kinh thành Huế”. Công trình kiến trúc kinh thành được tiếp tục vào thời vua Minh Mạng ra sao?
(Theo Tạp chí Duyên dáng Việt Nam – www.tindulichhue.com)

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)

Thác A Đon Huế – điểm du lịch sinh thái mới

Những tảng đá lớn, tạo nên khung cảnh kỳ vỹ và hoang sơ

www.tindulichhue.com – Nếu như các bạn đã từng đi thác Nhị Hồ, thác Trượt, … với những trải nghiệm thú vị, thì không nên bỏ lỡ một lần ghé qua thác A Don.

thacadon_hue

Hòa mình vào dòng nước của thác A Don

Thác A Don, còn có tên gọi khác là Khe Me thuộc địa phận xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, cách xa trung tâm thành phố gần 50 cây số. Đường đi tới đây khá xa nên nếu các bạn muốn đi thì hãy rủ thêm thật nhiều bạn đồng hành, vì càng đông càng vui. Và bạn cũng có thể chuẩn bị sẵn thức ăn, nước uống để có một bữa picnic bên bờ thác thú vị.
Từ thành phố Huế đi về ngã tư chợ An Lỗ, sau đó các bạn rẽ trái và chạy thêm khoảng 25km nữa, vượt qua khu nghỉ dưỡng suối khoáng nóng Thanh Tân đi về. Trên đường đi cứ gặp bất cứ ai bạn cũng có thể hỏi đường về thác A Don vì ai cũng biết về địa danh trên.

Những tảng đá lớn, tạo nên khung cảnh kỳ vỹ và hoang sơ

Những tảng đá lớn, tạo nên khung cảnh kỳ vỹ và hoang sơ

Con đường đến với A Don khá hiểm trở, lắt léo nhưng không nguy hiểm, bạn có thể chạy thẳng xe máy vào đến gần chân thác vì ở đây chưa có dịch vụ trông giữ xe cho khách. Tuy nhiên, người dân ở khu vực này rất hòa nhã, mến khách nên bạn không cần phải lo lắng với việc giữ gìn tài sản cá nhân. Là một tay lái cừ khôi, thích chinh phục mọi địa hình thì bạn không nên bỏ lỡ địa điểm này.

Dòng thác lớn, chảy xuống tạo thành dòng nước trắng xóa

Dòng thác lớn, chảy xuống tạo thành dòng nước trắng xóa

Cũng giống như những thác nước khác, A Don cũng có hai phần tách biệt: thác nước chảy xiết phía trên và hồ nước yên lặng, trong vắt phía dưới. Nhưng có một điều đặc biệt là thác nước có những đường cắt xẻ độc đáo do sự xếp đặt của đá, cộng hưởng với hệ thống cây cỏ xung quanh với những tia nước trắng xóa làm cho không gian ở đây vừa tươi vui, vừa hùng vĩ nhưng lại hết sức nên thơ. Các thái cực cảm xúc dường như được xóa nhòa khoảng cách bằng hai từ: đa dạng. Du khách tới đây sẽ có cảm tưởng như đang được chiêm ngưỡng một cô sơn nữ đẹp, phóng khoáng, tinh nghịch nhưng lại rất khó nắm bắt…

Thác A Don - một điểm du lịch sinh thái mới dành cho dân Phượt

Thác A Don – một điểm du lịch sinh thái mới dành cho dân Phượt

Vì khá cách xa trung tâm thành phố nên thác A Don dù đẹp vẫn chưa được khám phá nhiều và trở thành điểm đến quen thuộc của khách du lịch. Hi vọng trong tương lai gần, thác A Don sẽ được quan tâm, triển khai phát triển nhiều hơn, quảng bá thêm một hình ảnh về sự giàu đẹp, trù phú và thân thiện của Huế cho bạn bè thập phương biết đến và thưởng lãm.

(Theo Xuyến chi – www.tindulichhue.com)

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
1 2 3 11